1
Bạn cần hỗ trợ?

Làng gốm Bát Tràng

Làng nghề Bát Tràng là một làng nghề lâu đời với nghề làm gốm sứ truyền thống. Từ những chậu hoa cây cảnh đến bát đĩa ăn hàng ngày, dưới tay nghề của những nghệ nhân Làng nghề Bát Tràng, chúng đều được phủ lên mình những màu sắc, hoa văn tinh xảo, bắt mắt người xem.  Đến với Làng nghề Bát Tràng, không chỉ là tham quan, ngắm nghía, mọi người còn được tự tay mình nhào nặn những cục đất sét nên những chiếc cốc, những đồ gốm cực xinh theo ý muốn.

Gốm được tạo ra ở Làng nghề Bát Tràng là một quá trình khắt khe nhưng cũng hết sức độc đáo, thú vị, gồm có hai công đoạn chính: tạo cốt gốm và trang trí hoa văn, phủ men là công đoạn hoàn tất.  Tạo cốt gốm lại gồm nhiều giai đoạn nhỏ hơn: đầu tiên phải chọn đất; sau đó xử lý, pha chế đất; tạo dáng đất theo ý muốn và cuối cùng là phơi sấy và sửa sang lại hình dáng. Mỗi giai đoạn đều cần đến sự chuyên nghiệp và tay nghề khéo léo của các nghệ nhân, đặc biệt là việc trang trí và chế tạo men để tạo ra được những sản phẩm gốm sứ chuẩn phong thái Làng nghề Bát Tràng.

Làng nghề Bát Tràng là nơi cung cấp chính những đồ gốm sứ mĩ nghệ độc đáo ở nước ta, nhắc đến gốm sứ không ai là không biết đến Làng nghề Bát Tràng trứ danh ấy. Với hơn 500 năm tuổi, Làng nghề Bát Tràng khiến mọi người cảm thấy thán phục đến kinh ngạc về những sản phẩm gốm sứ được tạo ra ở đây. Sản phẩm gốm sứ ở Làng nghề Bát Tràng nổi bật với chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong, loại men này sắc độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu.

Đặc biệt là Bát Tràng đã có men lý, men nho, men này màu gần như màu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc. Ngoài ra, còn có men rạn là sự nhào trộn, kết hợp hài hòa giữa rạn xương đất đen và rạn xương đất trắng khá độc đáo. Nhờ lớp men phủ mà các sản phẩm ở Làng nghề Bát Tràng luôn sáng bóng, bắt mắt, các họa tiết hoa văn lên hình sắc nét, chuẩn màu mè và giữ được hình màu thật lâu với thời gian.

Giai thoại của Làng gốm Bát Tràng

Từ trung tâm Hà Nội, theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa sẽ đến bến Bát Tràng. Nếu thích hít hà mùi cỏ non, mùi nồng của đất, con đường đê ngoằn ngòe uốn lượn qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng sẽ là 1 lựa chọn hoàn hảo cho những ai thích ngắm phong cảnh hữu tình mây trời sông nước.

Bát Tràng, làng gốm nổi tiếng với nhiều huyền thoại còn lưu truyền tới tận ngày nay. Truyện xưa kể rằng, vào thời Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều, Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, họ phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng.

Còn theo ký ức xa xưa của người dân Bát Tràng thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng là cư dân bản địa và lâu đời nhất, nên được giữ vị trí tôn trọng trong ngôi thứ cũng như trong lễ hội của làng.

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long. Nơi đây trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một số thợ gốm đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường.

Đến nay, những công trình khai quật khảo cổ học có thể cho thấy rõ hơn bề dày lịch sử và những di tích của làng gốm Bát Tràng.

Chính sách của nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi mở nên kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi. Gốm Bát Tràng thời Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất. Người đặt hàng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ.

Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ 15, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn sang phương Đông. Các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi động, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán châu Á và với thị trường thế giới đang hình thành.

Thế kỷ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu - Mỹ Xá. Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là 2 trung tâm mậu dịch phát triển. Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn do nằm bên bờ sông Hồng ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài. Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á.

Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp với những hàng hoá mới cần thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tình hình kinh tế đó cùng với chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỷ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Đó là lý do khiến một số làng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (như làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.

Trong thời Pháp thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và hàng ngoại nhập cạnh tranh nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường. Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), tại Bát Tràng thành lập Xí nghiệp gốm Bát Tràng (1958), Xí nghiệp X51, X54 (1988) cùng một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984)... Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn... đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các tỉnh.

Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Từ thôn Bát Tràng, nghề gốm nhanh chóng lan sang thôn Giang Cao và đến nay, cả xã Bát Tràng (gồm hai thôn Bát Tràng, Giang Cao) trở thành một trung tâm gốm lớn.
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc...

Sản phẩm tiêu biểu

Ấm chén bát tràng